Đinh Tiên Hoàng – huecity.gov.vn

1. Vị trí con đường

Đường Đinh Tiên Hoàng có một đoạn ngắn nằm trên địa bàn của phường Phú Hòa (ngoài cửa Thượng Tứ), còn phần chính nằm ở phường Thuận Thành và Thuận Lộc, thuộc khu vực Thành Nội, khởi đầu từ đường Trần Hưng Đạo (điểm tiếp giáp trước đình Thương Bạc), chạy lòn qua cửa Đông Nam (tức cửa Thượng Tứ) vào Thành nội, qua ngã tư các đường Hai Mươi Ba Tháng Tám, Đinh Công Tráng, Hàn Thuyên, Nguyễn Chí Diểu, Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Mai Thúc Loan, Nhật Lệ, Tịnh Tâm, Lê Văn Hưu, qua cầu Ngự Hà đến đường Lê Trung Đình, dài 1953m. Đoạn từ Lê Trung Đình đến ngã tư Mai Thúc Loan lưu thông hai chiều; đoạn từ ngã tư Mai Thúc Loan đến đường Trần Hưng Đạo lưu thông một chiều, cả hai đoạn đều cấm xe tải nặng.

2. Lịch sử con đường

Đường được hình thành từ đầu thế kỷ 19, cùng thời với việc xây dựng Kinh thành. Là con đường huyết mạch của Thành nội và sớm có tên gọi. Từ 1945 trở về trước, đoạn ngoài là đường Hộ Thành, đoạn trong là đường Cầu Kho. Trước năm 1976 là đường Đinh Bộ Lĩnh. Tháng 1/1977, UBND tỉnh Bình Trị Thiên ra quyết định đổi, đặt lại tên là đường Đinh Tiên Hoàng. Dân gian vẫn quen gọi là đường Thượng Tứ.

3. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Đinh Tiên Hoàng (ất Dậu 925 – Kỷ Mão 979) Đinh Tiên Hoàng là miếu hiệu của vua Đinh, húy là Hoàn, còn Bộ Lĩnh là tước quan của ông do Sứ quân Trần Lãm phong cho, nên thường gọi là Đinh Bộ Lĩnh; quê ở làng Đại Hoàng, thuộc động Hoa Lư (nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), cha là Thứ sử Châu Hoan Đinh Công Trứ làm nha tướng của Dương Diên Nghệ. Khi cha mất sớm, ông cùng mẹ về quê ở Đàm Gia Trang, nương thân với người chú ruột là Đinh Dự. Hàng ngày, ông thường cưỡi trâu ra đồng chăn và nhóm họp bạn bè lấy cây lau làm cờ, tập đánh trận giả. Ông kết bạn thân với Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lưu Cơ, Trịnh Tú. Mấy năm sau ông bỏ nhà người chú, sang đầu quân và làm con rể Sứ quân Trần Lãm đóng ở Bố Hải Khẩu. ít lâu, Trần Lãm mất, ông đem quân về trấn giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương chống lại nhà Tống và các sứ quân khác. Trong một năm (965) ông đã dẹp xong các sứ quân, thống nhất chỉ huy toàn cuộc. Năm 968 ông lên ngôi vua, đặt tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế, lấy quốc hiệu nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Năm 970 ông đặt tôn hiệu mới là Thái Bình, sai đúc tiền đồng (là tiền tệ cổ nhất của nước ta) gọi là Thái Bình. Vua có công lớn trong việc thống nhất quốc gia, mở ra nền độc lập đầu tiên của nước ta. Năm 979, ông và con lớn là Đinh Liễn bị tên hầu cận Đỗ Thích giết chết. Vua ở ngôi 12 năm, thọ 56 tuổi, lăng ở núi Mã Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, đền thờ vua cũng gần đấy. Dưới thời nhà Nguyễn, vua Đinh được phối thờ ở miếu Lịch Đợi Đế Vương. Chi nhánh Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Công ty sách và thiết bị trường học, Trường THPT Nguyễn Huệ (địa điểm đóng Nha Hộ thành cũ), Đình cổ phường Phú Nhơn, Lầu Tàng Thơ, Hồ Tịnh Tâm, nằm trên đường này.